Chuẩn hóa địa danh phục vụ công tác thành lập Bản đồ của Việt Nam: Khó khăn, thách thức và kết quả đạt được.

Xem cỡ chữ

Các nuớc trên thế giới đều rất coi trọng công tác địa danh và việc chuẩn hóa địa danh đã không dừng ở cấp độ quốc gia, mà đã được nâng lên một bậc cao hơn ở cấp độ quốc tế. Nhằm thống nhất cách chuẩn hoá địa danh, Nhóm chuyên gia về địa danh của Liên Hợp Quốc đã làm việc tích cực nhằm phổ biến nhận thức về tầm quan trọng của việc chuẩn hoá địa danh, đưa ra những nguyên tắc cơ bản, hướng dẫn về công tác chuẩn hoá địa danh.

Ở Việt Nam, công tác chuẩn hoá địa danh phục vụ thành lập bàn đồ được Cục Đo đạc, Bản đồ và Thông tin địa lý Việt Nam triển khai thực hiện từ năm 2006. Các kết quả chuẩn hoá địa danh đã góp một phần quan trọng trong việc bảo vệ chủ quyền quốc gia, phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam, trải qua quá trình thực tiễn hơn 10 năm, việc xây dựng hệ thống văn bàn quy phạm pháp luật phục vụ công tác chuẩn hóa địa danh đã dần hoàn thiện. Danh mục địa danh các đơn vị hành chính Việt Nam. Danh mục địa danh dân cư, sơn văn, thủy văn, các yếu tố kinh tế - xã hội, cơ sở dử liệu địa danh của 54 tỉnh đã được công bố. Tuy nhiên, bên cạnh các thành quả đạt được thì công tác địa danh cũng đang đặt ra nhiều thách thức, khó khăn cần phải tiếp tục hoàn thiện trong thời gian tới.

1. Tổng quan về các hoạt động của Nhóm chuyên gia về địa danh của Liên Hợp Quốc (United nations group of experts on geographical names - UNGEGN) và các hoạt động tham gia của Việt Nam tại UNGEGN

Trên thế giới hiện có khoảng 7.000 ngôn ngữ khác nhau, trong đó có nhiều ngôn ngữ không có chữ viết. Chữ Viết của khoảng 200 quốc ngữ chính thức được chia thành các nhóm Latinh, nhóm Slavo, nhóm Ả rập, nhóm chữ tượng hình. Nếu không có những nguyên tắc phiên chuyển chung, khoa học thì không thể đọc đúng địa danh của các nước trên thế giới, mà việc sử dung địa danh đúng và thống nhất trong phạm vi quốc gia và trên toàn thế giới là một yêu cầu rất quan trọng và ngày càng cấp thiết

Nhận thức được tầm quan trọng của địa danh, năm 1959 Liên hợp quốc đã thành lập Nhóm chuyên gia về địa danh của Liên Hợp Quốc (UNGEGN) để đẩy mạnh việc chuẩn hóa địa danh trên cả hai mức độ quốc gia và quốc tế. UNGEGN là một trong bảy cơ quan chuyên môn thường trực của Hội đồng xã và Kinh tế của Liên hợp quốc (ECOSOC) với hơn 400 thành viên đển từ hơn 100 quốc gia UNGEGN lam việc thông qua 24 tiểu ban vùng địa lý/ngôn ngữ và thông qua các nhóm làm việc Hội nghị Liên hợp quốc về chuẩn hóa địa danh (UNCSGN) được tổ chức toán thể 5 năm một lần, đồng thời hàng năm có khoảng 5 - 10 hội nghị theo chuyên đề và các hội nghị khu vực. UNGEGN là tổ chức quốc tế chịu trách nhiệm chính trong các vấn đề sau:

- Phổ biến nhận thức về tầm quan trọng của việc chuẩn hóa địa danh ở cả hai mức độ quốc gia và quốc tế để chứng minh những lợi ích phát sinh từ việc chuẩn hoá địa danh;

- Thu thập và xem xét những kết quả liên quan đến chuẩn hoá địa danh của các quốc gia thành viên và quốc tế, phổ biến những kết quả đó đến các quốc gia thành viên Liên hợp quốc; 

- Nghiên cứu và đưa ra những nguyên tắc, chính sách và phương pháp phù hợp cho việc giải quyết vấn đề chuẩn hóa địa danh ở từng quốc gia và quốc tế;

- Tư vấn trợ giúp khoa học và kỹ thuật, đặc biệt là các nước đang phát triển, trong việc chuẩn hoa địa danh ở từng quốc gia và quốc tế;

- Làm đầu mối liên hệ và phối hợp giữa các quốc gia thành viên và các cơ quan quốc tế đối với các công việc liên quan đến địa danh;

- Chỉ đạo thực hiện những nhiệm vụ theo Nghị quyết của các Hội nghị của Liên hợp quốc về chuẩn hóa địa danh.

Từ 1992, Tổng cục Địa chính (nay là Cục Đo đạc, Bản đồ và Thông tin địa lý Việt Nam) đã Đại diện cho Việt Nam tham gia các hội nghị về địa danh của Liên hợp quốc do UNGEGN tổ chức, các hội nghị của Nhóm chuyên gia địa danh khu vực Đông Nam Châu Á - Thái Bình Dương (từ năm 2012 là Nhóm chuyên gia địa danh khu vực Đông Nam Châu Á - UNGEGN ASE), qua đó đã có nhiều đóng góp vào các hoạt động chung và tổ chức triển khai các Nghị quyết của UNGEGN vào công tác chuẩn hóa địa danh của Việt Nam, cụ thể như sau:

- Cung cấp danh mục một số địa danh cho UNGEGN để vào cơ sở dữ liệu địa danh của khu vực và quốc tế Năm 2009, địa danh Trường Sa và Hoàng Sa đã được đưa vào danh mục địa danh và thể hiện trên bản đò địa danh khu vực Đông Nam Châu Á - Thái Bình Dương.

- Rà soát, hoàn thiện danh mục các đơn Vị hành chính cấp huyện (trong đó có hai huyện đảo Trường Sa và Hoàng Sa) cung cấp cho Dự án Ranh giới đơn vị hành chính cấp 2 (The Second Admmistrative Level Boundaries - SALB) của Liên hợp quốc và đã được đưa vào sử dụng từ tháng 01 năm 2011.

- Rà soát, hoàn thiện việc chuẩn hóa khoảng 1.000 địa danh trên bản đồ toàn cầu tỉ lệ 1:1.000.000 phần lãnh thổ Việt Nam Phiên bản 2 của Chương trình bản đồ toàn cầu (International Steering Committee for Global Mapping - ISCGM) của Liên hợp quốc và giao nộp cho Ban Thư ký Chương trình vào năm 2016.

2. Công tác xây dựng các văn bản quy phạm liên quan đến chuẩn hóa địa danh Việt Nam

Để triển khai thực hiện Dự án “Xây dựng hệ thống thông tin địa danh Việt Nam và quốc tế phục vụ công tác lập bản đồ”, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã ban hành Quy định chuẩn hoá địa danh Việt Nam phục vụ công tác lập bản đồ ban hành kèm theo Quyết định số 271/QĐ-BTNMT ngày 28/02/2007. Quy định này được áp dụng cho việc chuẩn hoá địa danh Việt Nam (trừ địa danh hành chính và địa danh biển đảo) thuộc Dự án “Xây dựng hệ thống thông tin địa danh Việt Nam và quốc tế phục vụ công tác lập bản đồ”. Văn bản này được áp dụng trong giai đoạn đầu triển khai dự án.

Để hoàn thiện và bổ sung đầy đủ các nguyên tắc phiên chuyển địa danh, xây dựng cơ sở dữ liệu địa danh quốc gia, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã ban hành Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về chuẩn hoá địa danh phục vụ công tác thành lập bản đồ (QCVN37:2011/BTNMT). Quy chuẩn này áp dụng trong việc chuẩn hoá địa danh Việt Nam và địa danh nước ngoài phục vụ công tác thành lập bản đồ và được áp dụng đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến việc chuẩn hoá địa danh Việt Nam và địa danh nước ngoài phục vụ công tác thành lập bản đồ.

Quy chuẩn đưa ra các quy định kỹ thuật về chuẩn hoá địa danh bao gồm các nguyên tắc cơ bản như:

- Giữ nguyên các địa danh đã được quy định hoặc thể hiện thống nhất tại các văn bản pháp lý của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền;

- Đưa ra nguyên tắc chuẩn hoá các địa danh chưa được quy định tại các văn bản pháp lý của Nhà nước. Ví dụ như phương pháp chuẩn hoá địa danh đối với địa danh gốc dân tộc thiểu số ở Việt Nam và địa danh có nguồn gốc nước ngoài;

- Quy định về cách viết địa danh Việt Nam có ngôn ngữ gốc dân tộc thiểu số Việt Nam và có ngôn ngữ gốc tiếng nước ngoài.

Bên cạnh đó, Quy chuẩn đã quy định về trình tự, nội dung chuẩn hoá địa danh bao gồm: Thu thập tư, tài liệu, thống kê địa danh theo khu vực, xác minh địa danh, lập danh mục địa danh và xây dựng cơ sở dữ liệu địa danh; Quy định về cơ sở dữ liệu địa danh trong nước và nước ngoài. Về nguyên tắc, địa danh trong cơ sở dữ liệu được gắn với 1 mã định dạng địa danh và thông tin thuộc tính của địa danh. Mã địa danh phải đảm bảo tính duy nhất cấu thành từ mã châu lục, mã quốc gia, mã đơn vị hành chính, mã nhóm đối tượng, mã kiểu đối tượng. Quy định này được xây dựng dựa trên các tài liệu hướng dẫn về công tác địa danh của UNGEGN, phục vụ việc xây dựng cơ sở dữ liệu địa danh quốc gia có khả năng tích hợp với khu vực và thế giới.

Tuy nhiên hiện nay khi triển khai công tác chuẩn hoá địa danh cho khu vực Tây Nguyên đang gặp một số vấn đề nếu thực hiện theo Quy chuẩn trên, cụ thể như:

- Bộ chữ của các dân tộc bản địa khu vực Tây Nguyên là bộ chữ La tin có thêm 4 chữ cái W,Z,J,F và dấu phảy treo (’) so với bộ chữ quốc ngữ;

- Chính tả của các ngôn ngữ dân tộc bản địa khu vực Tây Nguyên cho phép sử dụng nhiều phụ âm ở cuối vần (s, r, h, k, l…), nhiều tổ hợp phụ âm ở đầu vần (kr, cr, bl, br, xp, st…) không như chính tả tiếng Việt;

- Các danh từ chung chỉ đối tượng Địa lý trong ngôn ngữ các dân tộc bản địa khu vực Tây Nguyên rất phong phú và không giống nhau, ví dụ: sông/suối có thể viết là Ea/Ia/Ya/Da/Đạ/Đăk…, núi có thể viết là Chự/Chư/Cự/Ngok…, làng/bản có thể viết là Buôn/Bon/Plei… mà chỉ có người bản địa mới hiểu được chính xác.

Trong khi đó Quy chuẩn trên không cho phép sử dụng bốn con chữ W, Z, J, F và dấu phảy treo (’) và địa danh được viết theo chính tả tiếng Việt mà chính tả tiếng Việt không cho phép sử dụng các phụ âm ở cuối vần, tổ hợp phụ âm ở đầu vần như trên. Quy chuẩn trên cũng bắt buộc viết các danh từ chung của các đối tượng Địa lý bằng ngôn ngữ bản địa (không cho phép dịch).

3. Kết quả chuẩn hóa địa danh

Từ năm 2006 đến nay, Cục Đo đạc, Bản đồ và Thông tin địa lý Việt Nam đã chủ trì và phối hợp với các địa phương tổ chức việc chuẩn hóa địa danh trên bản đồ địa hình các tỉ lệ 1:50.000, một số tỉnh là bản đồ địa hình tỉ lệ 1:25.000. Việc chuẩn hóa địa danh được thực hiện theo các quy định chuẩn hoá địa danh hiện hành đã đạt được các kết quả như: Năm 2006 hoàn thành và ban hành Danh mục địa danh các đơn vị hành chính Việt Nam năm 2006 bao gồm: Danh mục địa danh các đơn vị hành chính các cấp xã, huyện, tỉnh của Việt Nam gồm khoảng 12.000 địa danh; 64 tập bản đồ địa danh các cấp xã, huyện, tỉnh của 64 tỉnh, thành phố; Phần mềm trên máy tính tra cứu bản đồ và các thông tin về địa danh.

Năm 2007, hoàn thành và ban hành Danh mục địa danh quốc tế thể hiện trên bản đồ bao gồm: Tập danh mục gồm 6.000 địa danh nước ngoài về dân cư đã được phiên chuyển sang Tiếng Việt kèm thông tin về nguyên ngữ, cách viết la tinh hóa và tọa độ địa lý của địa danh; Phần mềm trên máy tính tra cứu bản đồ và các thông tin về địa danh.

Trên cơ sở kết quả chuẩn hóa, đến nay, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã ban hành được “Danh mục địa danh dân cư, sơn văn, thủy văn, các yếu tố kinh tế - xã hội” thể hiện trên bản đồ địa hình tỉ lệ 1:25.000, 1:50.000 của 48 tỉnh, thành phố với tổng số khoảng 80.000 địa danh. Hiện nay, Cục Đo đạc, Bản đồ và Thông tin địa lý Việt Nam đang tiếp tục hoàn thiện danh mục địa danh 6 tỉnh để trình Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành “Danh mục địa danh dân cư, sơn văn, thủy văn, các yếu tố kinh tế - xã hội” trong năm 2018.

Dự kiến kế hoạch đến hết năm 2019, việc chuẩn hoá địa danh của 9 tỉnh, thành phố còn lại sẽ được hoàn thành và trình Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành toàn bộ danh mục địa danh của 63 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trên toàn lãnh thổ Việt Nam.

Các địa danh đã ban hành được quy định sử dụng thống nhất trong các sản phẩm đo đạc và bản đồ và được lựa chọn để gửi cho UNGEGN phổ biến, sử dụng trên toàn thế giới.

4. Định hướng công tác địa danh trong thời gian tới

Từ những kết quả đã đạt được của công tác chuẩn hóa địa danh phục vụ thành lập bản đồ trong thời gian qua, trong thời gian tới, Bộ Tài nguyên và Môi trường sẽ tiếp tục tập trung chỉnh sửa, hoàn thiện Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về Chuẩn hóa Địa danh để có thể vận dụng đối với tất cả các vùng dân tộc - ngôn ngữ của Việt Nam; thực hiện việc chuẩn hóa Địa danh trên các bản đồ địa hình tỷ lệ lớn hơn 1/25.000; thử nghiệm việc xây dựng Từ điển Địa danh các tỉnh, thành phố ở Việt Nam để tiến tới xây dựng Từ điển Địa danh Việt Nam theo tinh thần của Đề án “Xây dựng hệ thống thông tin đia danh Việt Nam và Quốc tế phục vụ công tác lập bản đồ” đã được Bộ Tài nguyên và Môi trường phê duyệt tháng 12/2015. Đồng thời sẽ kiến nghị với các cơ quan có thẩm quyền để bổ sung bốn con chữ W, Z, J, F vào bộ chữ quốc ngữ, cho phép sử dụng các tổ hợp phụ âm đầu và các phụ âm cuối của các ngôn ngữ dân tộc Tây Nguyên trong chính tả tiếng Việt.

Bình luận


Mã kiểm tra


 
 

Tìm kiếm